LÀNG CỔ DUY TINH NƠI PHÁT TÍCH DANH XƯNG THANH HOÁ

Kỳ thứ 3
CHƯƠNG I

THÁI UÝ LÝ THƯỜNG KIỆT LÀM TỔNG TRẤN THANH HOA
19 NĂM TỪ 1082 ĐẾN 1101 – ĐỒN TRÚ TẠI LÀNG DUY TINH.


       Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng thời nhà Lý. Ông làm quan qua 3 triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
Ông chủ động đem quân, đánh chiếm 3 châu của nước Tống là: Châu Khâm, châu Ung, và châu Liêm (1075 – 1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống tại phòng tuyến sông Như Nguyệt (1077). Ông cũng là người viết bài “Nam quốc sơn Hà”, đây là bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng đầu tiên của Việt Nam!
南國山河
南國山河南帝居,Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
截然定分在天書。Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
如何逆虜來侵犯,Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
汝等行看取敗虛。Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Nghĩa là:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
       Sau hơn bốn chục năm ở triều đình nhà Lý, Thái uý Lý Thường Kiệt có công to lớn: Giúp vua bình Chiêm, phá Tống và điều hành chính sự cho quốc gia được yên ổn. Lý Thường Kiệt được vua Lý Nhân Tông phong “天子義弟Thiên tử nghĩa đệ” (Em vua)
Năm 1082, nhà vua cử ông vào cai quản trấn Thanh Hóa để bảo vệ vùng đất phên giậu quan trọng ở phương Nam. Lúc này ông đã 63 tuổi.
       Công lao của ông đối với Thanh Hoá về mọi mặt, được ghi lại trong 3 văn bia thời Lý ở Thanh Hoá. Đó là bia chùa Linh Xứng ở Hà Ngọc – Hà Trung. Bia chùa Báo Ân ở núi Nhồi – Đông Sơn. Bia chùa Hương Nghiêm ở Thiệu Trung – Thiệu Hoá.
Suốt thời gian 19 năm ông làm Tổng trấn, không những trấn Thanh Hoá yên tĩnh mà cả châu Hoan, và ba châu Bố Chính, Ma Linh, Đaị Lý cũng đều bình yên.
Về kinh tế: Với quan điểm “dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc”, ông khuyến khích nghề nông, trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa.
       Mở mang nghề đánh cá biển, làm muối. Khuyến khích nghề làm rừng, nghề thủ công mỹ nghệ, dò núi tìm đá. Nghề chế tác đá đầu tiên của Thanh Hoá ở núi Nhồi (Thợ đá là tù binh Chiêm Thành), làm các khí cụ như đẽo khánh đá, làm bia v.v…
Về Văn Hoá: Ông mở mang học hành, nâng cao dân trí, xây dựng phong tục tập quán tốt đẹp, xoá bỏ tập tục xấu. Ông còn chú ý nuôi dưỡng những người già cô đơn ở nơi thôn dã, làm cho ai cũng có cuộc sống an lành.
       Về Quân sự: Tuy đã bình Chiêm, phạt Tống thắng lợi, thanh thế nước ta bấy giờ rất lớn; nhưng khi vào nhậm chức ở Thanh Hoá, ông vẫn luôn chú trọng việc quân.
Thường xuyên luyện tập đội quân thường trực. Ông thực hiện chế độ ngụ binh ư nông. Nên lực lượng quân sự của trấn Thanh Hoá rất hùng mạnh.
Ông xây dựng làng Duy Tinh thành căn cứ quân sự, là phên giậu vững chắc của nhà Lý ở Phương Nam, đánh bại mọi cuộc tấn công của quân Chiêm Thành.
Dấu tích ấy qua các địa danh ở làng Duy Tinh, suốt chiều dài 900 năm vẫn còn lưu lại.
– ĐỒN: Thành trì trấn Thanh Hóa xưa gọi là ĐỒN – là khu đất hiện nay Trường THPT Hậu Lộc II.
– NGÕ VŨ: Nơi dành cho quan võ ở.
– CỒN VŨ: Cuối Ngõ Vũ là nơi luyện quân
– BỜ LŨY: là dải đất cao để phòng vệ quân Chiêm ở biển vào, từ khu ĐỒN chạy ra tận đường đi làng Mỹ Điện
– HÀO: Phía trong bờ lũy, xưa đào sâu để hành quân. Sau này gọi là ruộng Hào, thường trồng nếp hạt cau.
– CỒN CHIÊNG – CỒN TRỐNG: Phía ngoài bờ lũy, nơi đặt chiêng, trống
– CỒN THUYỀN – CỒN SÚNG: Ở cạnh Vươn, nơi tập kết thuyền ra sông Hà Mát và súng hoả mai đánh chặn quân Chiêm Thành.
– LĂNG: Khu nghĩa địa để mai táng người nhà quan (Nay là Nghĩa địa làng Mỹ Điện)
– VĂN MIẾU: Thời Lý Nhân Tông rất chú trọng giáo dục, tổ chức khoa thi đầu tiên của Đại Việt (1075) và xây dựng Văn Miếu – Quốc Tử Giám (1076). Khi về trấn giữ Thanh Hoá, Lý Thường Kiệt cho xây dựng khu Văn Miếu là nơi sĩ tử trong tỉnh về dự thi. Khu Văn Miếu ở bên kia cầu sang làng Hà Sen. Thời chống Pháp khu Văn Miếu làm Trường học. Sau này phá Văn Miếu xây dựng bệnh viện Hậu Lộc.
– BẾN TẨY: Ở đầu Ghềnh là bến tắm của sĩ tử, trước khi vào Văn Miếu tế lễ.
– HIỆN VẬT: Trong thời kỳ chống Mỹ, khi khai thác đất làm gạch ở khu ĐỒN, nhiều người đào được đồ gốm thời Lý – Trần, đầu rồng thời Lý, gạch bát khổ to ghi rõ niên đại nhà Trần…tiền đồng, bát sứ…Bấy giờ cả nước bận đánh giặc; không ai quan tâm chuyện Lịch sử, nên các hiện vật ấy họ bán đi mất cả.
Khu ĐỒN dành cho cơ quan Lương Thực làm kho, sau này xây dựng Trường cấp 3 Hậu Lộc II. Ngôi trường ở trên mảnh đất Lý Thường Kiệt đã từng đồn trú 19 năm, nay lại được số hoá là Trường PTTH Hậu Lộc II. Đúng ra phải đặt tên là Trường PTTH Lý Thường Kiệt.
Năm 2012 chúng tôi có tìm được cổ rồng bằng gốm ở bờ Ao Sen, đưa về chùa không biết có còn không.
       Các dấu tích ấy vẫn còn đến những năm 60 của thế kỷ trước. Thế rồi cùng với cuộc Cải cách ruộng đất kinh thiên động địa, long trời lở đất 1955 – 1956, rồi cuộc phản phong quyết liệt sau khi xây dựng HTX. Các di tích hàng ngàn năm không còn nữa.
       Các di tích bị phá là:
– Khu Đồn thành nơi đốt lò gạch, rồi cơ quan lương thực ở, cuối cùng là xây Trường cấp 3 Hậu Lộc 2.
– Bờ Luỹ rộng trên 10m, cũng như các cồn ngoài Luỹ bị san phẳng thành ruộng
– Đền 5 gian ở Ao Sen, thờ nguyên phi Ỷ Lan – Hoàng Cảm Linh Nhân. Bên trong Ao Sen, qua một sân rộng là ngôi đền, nơi thờ bà Hoàng Cảm Linh Nhân; một nhân thần của thời Lý, đó là bà Hoàng Hậu vương phi Ỷ Lan (mẹ vua Lý Nhân Tông). Đền là một ngôi nhà gỗ lim năm gian to rộng, rui mè đều bằng gỗ, lợp ngói âm dương. Cửa gỗ bức bàn theo lối kiến trúc truyền thống. Ngày lễ, các cánh cửa được nhấc ra; trông vào đền rộng thênh thang. Hai gian bên là hai sập gỗ dài suốt bề ngang của đền. Sập là một rương gỗ lớn, có nhiều ngăn để cất các đồ tế khí như cờ quạt, mũ áo cân đai, hia… Trải chiếu lên trên thành cái sập dài, rất tiện lợi vừa dùng ngồi hội họp việc làng, vưà ăn cỗ.
Năm 1957 đền không còn nguyên vẹn như xưa nữa. Tất cả cửa bức bàn không còn, chỉ còn năm gian trống trơn là chỗ học của lớp Hai. Năm sau nữa, đền bị phá không biết lấy gỗ làm gì. Chỉ còn lại cái nền đất và sân rộng rêu phong suốt một thời gian dài. Mãi sau năm 1975 mới xây dựng Đài tưởng niệm các Liệt sĩ ở đây!
– Phủ thờ Mẫu.
– Đình Nghè thờ Thần Cao Sơn độc cước – Thành Hoàng làng, là nơi làm việc của lý hương.
– Đền Phong Ngãi thờ bà Hoàng hậu Nguyễn Thị Minh Thuỵ và 17 vị vua thời Lê trung hưng.
– Đình Thờ ở Chợ – Đình Thờ này ở ngã tư phố, đình có 5 gian hướng Đông Tây. Gian phía Nam xây kín 3 bên, phía trong là cửa luôn đóng, ở trong thờ thần và các đồ tế khí. Bốn gian phía ngoài đều trống. Nền cao 3 bậc đá xanh lên xuống ở hai bên. Đình thờ là nơi làng làm lễ tế Kỳ Yên hàng năm vào rằm tháng tư. Năm hạn hán tế đảo vũ, cầu mưa của Phủ – Huyện. Sau năm 1945 đình là nơi giao lưu biểu diễn của đội Tuồng Duy Tinh, đội Tuồng Hoa Lộc và đội tuồng làng Phú Khê. Đình bị phá những năm 60 để xây dựng Bách Hoá. Đầu những năm 2000 xây dựng siêu thị, hiện tại cho tư nhân thuê để dịch vụ buôn bán.
– Điếm canh ở đầu ngõ Vũ, là nơi tuần đinh của làng trực đêm, thay nhau đi tuần từ nội gia cư đến ngoại đồng điền, giữ gìn an ninh cho làng. Sau này là cửa hàng mua bán, rồi phá đi san nền thành đất ở.
– Hiền Chỉ ở đầu làng trên nền chùa Vải xưa, cùng nhà thờ các dòng họ cũng bị phá, vì đó là dấu tích phong kiến, nay là Trạm xá xã.
– Giếng Quai, giếng Hào lấp năm 1972. Giếng Nạ lại chia đất cho dân, nên họ bịt kín lại. Giếng Tiên ở Ao Phỏ hiện nay được thôn Tinh Anh trùng tu lại.
– Rồi những cây đa cổ thụ cùng chung số phận: Cây đa con, cây đa chùa chung, cây vông Vươn, cây vông đầu cầu sang làng Hà Sen, cây đa và hàng phượng dọc đường lên làng Thái… Tất cả đều bị chặt phá sạch sành sanh. Bây giờ chỉ còn lưu lại trong trí nhớ các vị cao niên mà thôi !
       Di sản hiện nay chỉ còn ngôi chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, Ao Sen, 2 tấm bia, Chợ Phủ và cầu Phủ. Nhờ đó ta mới biết Làng Duy Tinh hơn ngàn năm tuổi. Đáng quý là hai thôn Tinh Phúc và Tinh Hoa, đã trả lại tên cho ba ngõ: Ngõ Chùa, Ngõ Nạ, Ngõ Vũ; để mỗi lần đi qua, ta nhớ lại một thời các vị tiền nhân đã khai thiên lập địa nên làng cổ Duy Tinh. Thôn Tinh Anh cũng cần trả lại tên Ngõ Thưa và Ngõ Hàng, cho hậu thế tự hào và nhớ về cái nôi của làng Duy Tinh.
       Ao Sen đào từ năm 1116 khi trùng tu chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, qua năm tháng có nhiều biến đổi. Năm 2014, được doanh nhân Tịnh – Thuận tài trợ hơn 400 triệu đồng để trùng tu lại, khang trang đẹp đẽ, tường bao xung quanh, bờ ao lát gạch với cây cảnh và 4 đèn cao áp ở 4 góc ao. Đêm đêm điện sáng lung linh như công viên, là nơi nam thanh nữ tú trong làng gặp nhau tình tự trao duyên gửi phận.
       Nhưng…đáng tiếc là các nhà chức trách và cán bộ Văn Hoá lại khắc bia ghi là “Giếng Sen!”, trong khi văn bia xưa ghi: “治蓮- Trì liên – Ao Sen”. Họ cho rằng dùng từ “Ao Sen” là “quê mùa một cục!”, phải dùng từ “Giếng Sen” cho thanh cao chăng??? Quả là hy hữu về kiến văn của họ. Ở Việt Nam chưa nơi nào có “Giếng Sen” rộng gần một ngàn mét vuông như làng Duy Tinh!
       – Sân Vận Động do Pháp xây dựng năm 1942. Đây vốn là bãi đất trống để hội quân từ thời nhà Lý, sau này là vườn ổi khá rậm rạp, phía Tây là Ao Tiên để tắm cho người và voi ngựa khi ấy. Hai cột cổng của sân vận động hình hộp rộng 60 cm, cao trên 3 mét. Mặt trước cột phía trên đắp hai chữ nổi SM lồng vào nhau, đó là 2 chữ cái của Pháp viết tắt của từ: STADE MUNICIPALE nghĩa là Sân vận động đô thị. Đó là sân vận động tiêu chuẩn, trung tâm là sân bóng đá có khung thành. Xung quanh có đường pit chạy thi, có hố nhảy cao, nhảy dài… Cả tỉnh Thanh Hoá bấy bấy giờ chỉ có 2 sân vận động thôi. Những năm đánh Pháp, sân vận động là nơi giao hữu với các đội bóng Hoằng Hoá – Thọ Xuân. Hậu Lộc bấy giờ chỉ có duy nhất đội bóng của làng Duy Tinh, với những cầu thủ có danh ai cũng nhớ: Ông Ký Nghệ sửa đồng hồ ở vị trí hậu vệ, ông Hoà Bảy thợ may ở vị trí thủ môn.
       Năm 1953 là pháp trường bắn tên phản động Tống Quang Chính, người Nga Sơn. Năm 1956 là pháp trường bắn địa chủ Lưu Ngọc Nhạn người Mỹ Lộc. Cả huyện đông ngạt người về xem!
       Phía Nam và phía Đông sân Vận Động bị cắt xén khá nhiều để chia đất cho dân. Hiện tại sân bị thu hẹp khá nhiều. Sân vận động bây giờ lại mang tên “Sân Văn Hoá”. Xem ra từ “Văn Hoá” có chiều hướng bội thực và lạm dụng! Bây giờ mọi cái đều được gắn mác “Văn Hoá” !

*
* *

       Ở Thanh Hoá 19 năm, đến năm 1101 nhà vua lại điều Lý Thường Kiệt về triều cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Lúc này võ tướng Lý Thường Kiệt 83 tuổi vẫn xông pha trận mạc suốt 2 năm, giành chiến công hiển hách. Ông trở về triều đình năm 1105 và qua đời ở tuổi 86!
       Công lao trời biển của Ngài thật to lớn. Lý Thường Kiệt đã xây dựng Thanh Hoá thành vùng đất biên ải của nhà Lý vững chắc về mọi mặt: Chính trị, Kinh tế, Văn Hoá – Xã hội và Quân sự… Làng Duy Tinh là trung tâm của trấn Thanh Hoa, nên cũng được phát triển mạnh mẽ. Để ghi nhớ công lao to lớn của Thái uý Lý Thường Kiệt, làng Duy Tinh đã tạc tượng phối thờ Ngài ở tiền đường chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh.
Hàng năm Lễ Hội của làng vào ngày mồng Tám tháng Hai âm lịch, bài vị Ngài được mang ra, đại diện cho các vị Thần của làng, đặt cao nhất trên lễ đài để nhân dân chiêm bái!
(Còn nữa – Kỳ 4 đăng tiếp)

Nguyễn Quý Phong

Quý Phong

Nguyễn Quý Phong – Nguyễn Văn Mậu Mobile: 0981.731.624 & 01.676.090.556 Email: quyphong2007@gmail.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *