VĂN BIA CHÙA SÙNG NGHIÊM DIÊN THÁNH

VĂN BIA CHÙA SÙNG NGHIÊM DIÊN THÁNH

Lời thưa: Tháng hai năm Bính Thân niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ bảy (1116), vua Lý Nhân Tông đi tuần Phương Nam, đến Làng Duy Tinh là lỵ sở Châu Ái. Sau khi vua hồi cung, để phúc đáp ơn vua và chúc quốc vận trường tồn; Thông phán Chu công, người trị nhậm địa hạt Trấn Thanh Hóa, liền triệu tập bô lão trong làng Duy Tinh và các thuộc lại trong Trấn, quyết định trùng tu xây dựng lại chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh. Dân làng Duy Tinh đã hăng hái tham gia đóng góp sức người, sức của cho việc xây lại chùa và làm bia. Sau hai năm trùng tu xây dựng, công trình đã hoàn thành.
Tấm bia dựng ngày 18 tháng 10 năm Mậu Tuất, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín (1118).
Bia cao 2,02 m, rộng 1,22 m trang trí đẹp, kiểu dây leo và rồng xoắn đời Lý. Bài Văn bia tựa đề là Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh do Thông thiền Hải chiếu đại sư, tứ tử thích PHÁP BẢO soạn lời.
Trải qua gần một ngàn năm, tấm bia đã bị phong sương làm mờ hết chữ, nhất là trong hai cuộc kháng chiến, bom đạn của Pháp và Mỹ đã làm sứt vỡ nhiều chỗ. Nhà chùa cũng như dân làng và phật tử không an lòng khi nhìn tấm bia như vậy. Ni sư trụ trì Thích Đàm Tâm với tấm lòng Phật lượng, lại được sự hằng tâm hằng sản của dân làng và thiện nam tín nữ khắp nơi công đức tiền của, phục chế bia.
Được sự giúp đỡ tận tình của Ban Văn Học Lý – Trần thuộc Viện Văn Học Việt Nam, do Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cùng cộng sự, đã thiết kế và tham gia chỉ đạo quá trình triển khai công trình.
Ngày 1 – 8 – 2013 chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh tổ chức Lễ khánh thành phục chế bia
Bài Văn bia đã được in trong Tập 1 cuốn Thơ Văn Lý Trần (Trang 368) xuất bản lần đầu năm 1977 của Nhà Xuất Bản KHXH
Chúng tôi giới thiệu Nội dung văn bia cả ba phần: chữ Hán, Phiên âm, Dịch nghĩa để bạn đọc có điều kiện tìm hiểu về một Văn bia thời Lý
                                                                                      Ban Quản Trị
                                                                            Website Làng cổ Duy Tinh





Phiên âm
SÙNG NGHIÊM DIÊN THÁNH TỰ BI MINH
Cửu chân quận, Thanh Hóa trấn, Sùng nghiêm Diên Thánh tự bi minh tính tự, Cửu chân quận, Thanh Hóa trấn, Phúc diên Tư thánh tự truyền pháp sa môn kiêm tri bản quận giáo môn công sự Thông thiền Hải chiếu đại sư tứ tử thích PHÁP BẢO soạn.

Phù, đạo chi bất nhất dã cửu hĩ, vật chi sinh vạn dã nghi. Nhiên tự thử tắc thanh danh mĩ ác đạo ư tiền; đắc táng hỉ nộ công ư nội. Trí ma chủng phân vi lục đại, nhi tục giáo thành ư cửu lưu. Thuần tố chi phong tán nhi mạc thu; kiêu li chi tập đãng nhi ích viễn. Cố tịnh giác chi tính ẩn nhi bất hiện; thị phi chi biện cạnh xuất phân vân. Toại phù trầm ư sinh tử luân hồi; bất tự phản ư thường lạc ngã tịnh. Duy Đại hùng vị nhất đại sư xuất hiện ư thế. Hoằng khải độ môn; quang dương diệu nghĩa. Tuy giáo phân ư đốn tiệm; tùy cơ ngộ hữu thiển thâm. Tỉ du đọan trường khanh; siêu đăng niết bàn ngạn. Diệt nghi sơn viêm côn chi hỏa; tĩnh ái hải thao thiên chi lãng. Do thị chiêm bặc chi hương huân ư động thưc; đề hồ chi vị nhuận ư tiêu khô. Tuệ nhật chu diện ư trần thiê; từ trạch phổ thi ư sa giới. Đãi hồ phất y ư Song-lâm thụ hạ; thóat tỉ ủ Ki-sa trì trung. Thị bạo thân tức hữu, thủy hữu chung; lượng thực tướng Hán hoàng. Tấn tống kế quỹ nhi truyền phương, linh lư tiết tị; Ngụy Tề triệt nhi tỉ mĩ, bảo sát tương vương. Tự thử dĩ lai; mạc bất sùng thượng. Cậc tắc ngật lập ư liễn cốc; viễn tắc thác giá ư nham a. Hoặc ban thổ vận tài, tố chân dung nhi tác lễ; hoặc phạm kim tiễn thái, tố thánh tượng dĩ chiêm y, tắc tri Phật pháp chi hưng, kỳ lai viên hĩ.
Sùng-nghiêm Diên-thánh tự giả, tức quyền phán Cửu-chân quận, Thông phán Chu công thân suất cư dân lão thiếu đẳng trợ công dĩ tu tập dã. Công tính tự ôn cung; chí thượng liêm tiết. Sự thượng dĩ trung tín; tiếp hạ dĩ khoan nhân. Văn nhất thiện ngôn tắc quyền quyền phục hưng; vụ tam đông học nhi tư tư võng quyện. Trí dĩ tổng quán kinh sử; uyển lệ văn chương. Bá tảo dự ư chư sinh; toại lệnh danh ư cao đệ. Trạc nội cấp sự; thời thủy quán niên. Thừa mệnh gia vinh, diệu mặc tích ư kim thạch; thủ quan duy cẩn, ái lệnh vău ư ban liêu. Vinh đạt ích tu ư lễ nhượng; tể phụ hàm tiến kỳ tài năng. Cố ư Hội Tường Đại Khánh Ất mùi, sủng thừa luân chiếu; lai bỉnh quận phù. Quyền thống Thanh-hóa ngũ huyện tam nguyên chư quân châu sự. Nhi nãi phát hiệu thi lệnh; trừ cựu bố tân. Phất vỹ phất huyền nhi khoan mãnh tương tư; phi thổ phi nhự nhi cương nhu hợp độ. Chí ư phàm sở thố trí, mị bất đáng lý. Khuyến dân cần ư canh chức; quyết ngục vu dĩ hòa bình. Thị dĩ thượng hạ hòa đồng nhi tranh tụng tức; diêm lư hoan lạc nhi phong hóa thanh. Thiên tử văn chi; thậm vi thán nhạ. Dĩ phương trấn chi nhậm đắc hiền lương thuyên kỳ mậu tích. Thu thất nguyệt nãi chiếu công tổng chúng tu trị bản quận nha thự. Ngật lập điện đường; chu hồi lang vũ. Hoàn cố thành quách; phân trí dịch đình. Tạc kinh thông lưu; thác khai uyển hựu. Công ký thành dã, thượng dĩ công vi năng, trừ Bí thư lang kiêm thủ nộ phủ công vụ, tái tri Thanh-hóa quận sự.
Ư Hội Tường Đại Khánh thất niên Bính thân xuân nhị nguyệt ngự giá Nam tuần. Chí Ái-châu toại lãm long chu; tạm đình loan trượng. Tinh kỳ thước nhật; vũ vệ tán vân. Hội ngũ ngọc nhi đa nghi; thiết của tân nhi hữu tự. Phong tuyết vũ thất bàn trình thái; Hàm thiều tấu lục nhạc huyên không. Thiên giám chúc nhi phong bộ minh; đương hòa hi nhi manh cai phách. Phàm tại biên kiểu; thao mộc ưu long. Thực thiên tải chi nan phùng; thử nhất phương chi thâm hạnh.
Giá ký hồi dã; công nãi triệu quận chi phụ lão cập ư thuộc lại, nhi vị chi viết: “Vinh thừa luân mệnh; tái mục tư dân. Ngộ thánh giá dĩ tỉnh phương; chí tư châu nhi trụ tất. Thái dương động chiếu ư u bộ; cao trạch hàm nhuận ư sinh linh. Phụ nữ tương khánh ư thất gia; kỳ ấu ca dao ư đạo lộ. Hàm hiệu quỳ hoắc chi hướng; nguyện đáp thiên nhật chi lâm. Nghi tu nhị Phạn chi công; thượng chúc thiên thu chi vận.” Nhĩ nãi trạch bỉ thành Tây nam giáo; quyết hữu cổ sát di tung. Cơ chỉ nhi chuyên ngõa do tồn; đống vũ tắc kinh trăn dĩ mậu. Hướng đăng tuy phế; phong cảnh tự thù. Song khuyết khống ư tiền; tam giang ủng kỳ hậu. Khoáng nhĩ xâm tịch; tĩnh thắng thản đi. Chân Thích hùng trụ tích chi phương; Bồ tát thê tâm chi sở. Đương thứ tục chi hạ thời; nhân tam nông chi hưu vụ. Nãi mệnh huyện lệnh Lê Chiếu dĩ đổng kỳ sự. Vu thị di oa tước hiểm; trắc nhật sùng cơ. Sính công tử tượng dĩ miễn lực, như bản tẩu hoàn; quán phát nhi xỉ nhi cấp duyên, do ba ủy độc. Tấu hướng do nghị; huy phủ như vân. Hưng kỳ vật cức; tích cửu tự thành. Quan kỳ ẩm vũ hồng lương nhi quýnh xuất; lâm phong uyên ngõa nhi dục tường. Cô lăng yết nhật; khúc hạm diên phong. Hoàn trắc viên dung, nhất điểm chi hiêu trần bất tạp; chu hồi lang vũ; tứ thời chi hiên dũ thanh hư. Hương viên uất kỳ hữu, ấp lộ nhi lan tùng a ná; tịch kỳ tả, xuất thủy chi hàm tu phu vinh. Địa tiếp ly cung, dị lâm loan u tịch chi sở; môn hoành yếu lộ, nhiếp nhân thiên quy chính chi phương. Biệt hữu tư tín túc chi đồ, nhi bị hồ kỷ tháp; cung thiền định chi bối, nhi bị hồ khúc đột. Pháp vũ duật tự; thánh tượng nghi nghiêm. Ký quyết thổ vi vi diệu chi tư; phục dung kim tựu đoan nghiêm chi thụy. Cái dục truyền phương ư vạn thế; khởi đồ yêu phúc ư nhất thời. Ư thị suất ấp lại biên liêu; bang long thùy tượng. Công thi Thú sơn chi bảo; quảng cầu cưu thị chi lương. Bất xí ư tam thiên dư cân; tinh trú kỳ tam Như- lai tướng. Phi tướng hiển tướng, liễu nhiên tuyệt tướng chi cơ; bất sinh thị sinh. thực duy hóa sinh chi bản. Thị dĩ mãnh lô tức nhi hoàn cụ thập thân; tử yên tiêu nhi uyển nghiêm bách phúc. Đương dương tọa hiền kiếp Thích-ca-Mâu-ni. Quá khứ trang nghiêm, Ca-diếp liệt kỳ bàng; đương lai tinh tú, Từ-thị thứ kỳ trắc. San trinh, thạch nhi các trí hoa đài, cộng thừa võng túc. Thứ hữu Ma-lị phong khởi tọa phúc điền, hậu thế hiệu viết Kiều-trần-đa-la-tạng. Khải trí tường, tạm Phật môn, danh xưng Hộ pháp. Dư nhất thiên cân tái thành hồng chung nhất khẩu, thiềm gian thiết cự nhi trí yên. Mi dĩ kim sách; quá dĩ mộc kinh. Bạt khổ thú ư kiếm luân; cảnh hôn cốt ư hàm thức. Cập kỳ phấn bích hội đồ chư duyên nhân quả, thiên biến vạn hóa, khúc tận kỳ diệu. Phàm kiến văn giả, miễn ư thiên thiện, trừng hồ bất tang, sở vị mâu Vương-xá thành, tỉ An-dưỡng giới.
Kỳ lạc thành dã, tập tứ hoằng thượng sĩ; diễn thất dụ diện ngôn. Chư thiên thánh chúng, ung ung nhi hòa hội văn trăn; tứ cảnh thần kỳ, nhương nhương nhi khánh lâm phúc hưu. Cung trai tu dự cửu niên chi đạo; quyên bổng bạch kiệt nhất thế chi tư. Sở hữu cơ biễu chi đồ; khánh mông đàn việt chi thí.
Ô hô! Thắng lợi ký hoàn mĩ; lương nhân ký tất hĩ. Nghi hương hỏa cần phần; dần hôn chúc tán. Thuần hi điệp kỳ thái hoa; giới chỉ bác hồ hồng minh. Phục kỳ Thánh vận di xương, ứng nhị nghi chi phủ hóa; lạ đồ ích vĩnh, sùng vạn thọ chi hồng hưu. Ngũ hành hiệp tự; thất chinh tề cơ. Thương lẫm phong đăng; biên kỳ ninh bật. Thứ vi kết duyên bối, sinh thân ngũ phúc, cốc biến hề vi; tha kiếp nhị nhân, châm đầu bất trụy. Vĩnh cập bức viên chi nội; xuẩn đổng chi lưu. Mộc thử thắng nhân; chứng vô sinh nhẫn. Vĩ phù già lam tráng lệ, lăng cốc biến nhi sảng khải di tăng; thúy đạm thuyên đề, Bội-hải càn nhi lệnh danh vĩnh bá.
Thần quy y pháp bảo, lũ thừa kiến mệnh, bất dõan kỳ từ. Cảm dương ngôn viết: công quả thiện quả, cứu mạc trắc kỳ đoan do; từ nguyên hóa nguyên, ấp hãn tri kỳ nhai tế. Cẩn thuật bỉ hoài nhi kỷ kỳ nhật nguyệt.
Minh viết:
Tinh diệu phát tán,
Ngu trí tính manh.
Thanh trọc phấn phái,
Thị phi tịch hành.
Xảo ngụy cạnh khởi,
Tà tịch phân tranh.
Tham sân nhạc trĩ,
Ái dục hải doanh.
Toại nhập luân hồi,
Mạc thoát tử sinh.
Duy hữu chính pháp,
Khả độ mê tình.
Tối hỹ năng nhân,
Già duy ứng tích.
Thừa nhất đại sự,
Phổ chư nhiêu ích.
Tuy thị sắc tướng,
Bản tự không tịch.
Tam hội đàm huyền,
Tứ môn du lịch.
Nhân thiên kính ngưỡng,
Tháp miếu hiển hách.
Tước thổ vương công,
Hương đăng triêu tịch.
Quyết hữu anh tài,
Duy châu tư mục.
Cán sự trinh thuần,
Chuyên tâm lệ húc.
Viễn hề bất hoài,
Nhĩ hà bất túc.
Tuyên bố chiếu điều,
Phủ tuy thứ tục.
Thương sương mãn doanh,
Diêm lư tập mục.
Trị hữu tuần doanh,
Quyết vô lạm ngục.
Danh đạt tử thần,
Tái nhậm tư dân.
Thống lĩnh công tượng,
Thừa phụng ti luân.
Viên dung tư cựu,
Đường vũ sáng tân.
Hành đài tạo tất,
Pháp giá lai tuần.
Trạch giáng nhương nhương,
Chúng lạc hân hân.
Tư đáp duệ quyến,
Duy sùng diệu nhân,
Văn quận thành Nam,
Cổ sát di cơ.
Kinh mai trăn tỏa,
Trụ chiết đống đọa.
Bách tuế kỳ ngải,
Lục xích đồng nhi.
Đồng tâm trí lực,
Chấn phúc hưng suy.
Biền tử vân tấu,
Cân phủ tuyết phi.
Chế độ hoằng vĩ,
Điêu khắc hi kỳ.
Nhân dân tỳ liễn,
Thành quách tứ khởi.
Bảo cấu ngật nhiên,
Tượng dung trác hĩ.
Thệ thực lan tùng,
Trì phu liên vỉ.
Lục thời chung cổ,
Tứ lai chiêm lễ.
Lạc thành khải tịch,
Vân tập khai sĩ.
Phạn bối triều âm,
Xưng dương áo chỉ.
Bổng bạch trân xí,
Cung dưỡng chu phổ.
Giới chỉ thâm diếu,
Tư diên thánh tộ.
Đoan củng nham lang,
Dữ thiên di cố.
Hữu thức hàm linh,
Đồng xu giác lộ.
Phụ trọng tức kiên,
U trầm xuyết khổ.
Kỷ sự thuyên mình,
Vĩnh truyền bất hủ.
Hội Tường Đại Khánh cửu niên, Mậu Tuất tuế, thập nguyệt, thập cửu nhật trai khánh ngật lập. Phụng nghi lang, thủ thái thường thừa, kiêm quản ngự phủ tài hoa, kiêu kỵ úy, tứ phi ngư đại, tá tử, Chu Nguyên Hạo thư.

Dịch nghĩa

           VĂN BIA CHÙA SÙNG NGHIÊM DIÊN THÁNH

Bài minh bia chùa Sùng nghiêm Diên thánh ở quận Cửu Chân, trấn Thanh Hóa có kèm lời tựa.
Thông thiền Hải chiếu, tứ tử, thích PHÁP BẢO là người truyền pháp ở chùa Phúc Diên Tư Thánh, quận Cửu Chân, trấn Thanh Hóa, kiêm chức Tri giáo môn công sự của bản quận, soạn lời.

Ôi, đạo không thâu tóm về một mối đã lâu rồi, cho nên sự vật nẩy nở ra muôn vàn là điều tất nhiên thôi. Từ dó, tiếng tăm khen chê khơi lên ở phía trước; mừng giận mất còn lục đục ở bên trong. Đưa đến chỗ chia phiền não ra làm 6 loại; phân tục giáo ra thành 9 dòng. Phong hóa thuần hậu tan nát mà không ai thu về; tập tục kiêu bạc nổi sóng càng lan tràn xa rộng. Cho nên cái tính giác ngộ và trong lặng ẩn mà không hiện; lời nói khen ngợi và chê bai tung ra rối bời. Thế là nổi chìm ở nơi sống chết luân hồi; không trở lại chốn “thường”, “lạc”, “ngã”, “tịnh”.
Duy có họ Đại hùng vì một việc lớn nên đã xuất hiện ở thế gian này. Mở rộng cửa tế độ; nêu rõ nghĩa diệu huyền. Giáo pháp có chia ra “đốn”, “tiêm”; là tùy cơ hiểu biết có sâu, nông. Khiến [chúng sinh] vượt hố đoạn thường; lên bờ “tịch diệt”. Dập ngọn lửa núi ngờ rừng rực; lắng ngọn triều bể ái mênh mông. Do đó, hoa chiêm bặc xông hương cho cây cỏ chim muông; sữa đề hồ thấm nhuần cho héo khô tiều tụy. Mặt trời Phật rực sáng ở trần thiên; ơn từ bi chứa chan nơi sa giới. Đến khi phủi áo ở rừng Song Thụ; trút dép ở ao Kim Sa. Bảo báo thân thì có trước có sau; lượng thực tướng mà không đi không lại. Cho nên cảnh đêm mới rõ ở nhà Chu; mộng lạ phát sinh nơi vua Hán. Tấn, Tống nối tiếp mà truyền thơm, nhà tăng san sát; Ngụy Tề theo nhau mà tô đẹp, tháp báu nguy nga. Từ đó đến nay; đâu cũng sùng thượng. Gần thì ở kinh đô; xa thì ở rừng núi. Hoặc gánh đất khiêng gỗ, tạc chân dung để phụng thờ; hoặc thêm gấm đúc vàng, làm tượng thánh để chiêm ngưỡng. Đủ biết đạo Phật hưng thịnh, đến nay đã lâu.
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh là của Thông phán Chu công, quyền coi quận Cửu Chân, suất lĩnh dân cư già trẻ giúp sức xây dựng lại. Chu công là người ôn hòa kính cẩn; khí khái thanh liêm. Lấy trung tín thờ người trên; lấy khoan nhân tiếp kẻ dưới. Nghe lời nói hay thì để mãi trong lòng, học đủ ba đông mà không biết mệt mỏi. Tinh thông kinh sử; uyển lệ văn chương. Tiếng khen sớm lan truyền trong đám nho sinh; tên tuổi lạ vang lừng nơi trường ốc. Sung Cấp trung sự; tuổi mới thiếu niên. Vâng mệnh thêm vinh, khéo nét bút ở nơi vàng đá; giữ quan cẩn thận, nổi tiếng thơm trong khắp đồng liêu. Vinh đạt càng giữ gìn lễ nhượng; tể phụ đều tiến cử tài năng. Cho nên năm Ất mùi, niên hiệu Hội Tường Khánh thứ sáu (1115) kính vâng chiếu chỉ, tới giữ quận phù, quyền thống lĩnh các việc quân châu của năm huyện và nguồn thuộc trấn Thanh Hóa. Ông bèn ban bố hiệu lệnh; thay cũ đổi mới. Không chùng không thẳng mà khoan mãnh dựa nhau; không mềm nắn rắn buông mà cương nhu hợp độ. Xếp đặt các việc; đều được hợp nghi. Khuyên nhân dân chăm việc nông tang; xét hình ngục cốt điều hòa ái. Cho nên trên dưới một lòng mà bỏ hết kiện tụng; xóm làng vui vẻ mà phong hóa thanh cao. Thiên tử nghe tin; xiết bao tán thưởng. Cho rằng, việc trọng nhậm phương trấn, đã tìm được bậc hiền lương làm nên công tích. Mùa thu, nhà vua xuống chiếu sai ông thống lĩnh dân chúng sửa sang nha thự ở quận, xây dựng điện đường cùng lang vũ chung quanh. Củng cố thành quách, chia đặt trạm dịch, khai đào sông ngòi, mở mang vườn tược. Khi công việc đã thành, nhà vua thấy ông có tài năng, thăng ông làm chức Bí thư lang kiêm giữ công việc nội phủ, rồi trao lại trọng trách trong coi trấn Thanh Hóa.
Tháng hai năm Bính thân niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ bảy (1116), nhà vua đi tuần Phương Nam, đến địa hạt châu Ái. Thuyền rồng đậu lại; xe loan tạm dừng. Cờ xí lòa trời; vũ vệ ngợp mây. Hội chư hầu nhiều vẻ; đặt phương bá có hàng Phong tuyết múa bảy điệu quay cuồng; Hàm thiều dạo sáu khúc nhộn nhịp. Gương trời tỏ mà lịch pháp rõ ràng; khí xuân tỏa mà cỏ cây nẩy nở. Ngoài nơi biên tái; được gội ơn sâu. Thực là việc ngàn năm khó gặp, là vinh hạnh sâu sắc của cả một vùng.
Sau khi xe vua trở lại, ông bèn triệu tập các phụ lão và thuộc lại trong quận mà bảo rằng:
– Ta vâng mệnh vua; tái nhậm hạt này. Gặp thánh giá tuần du; đến châu này dừng gót. Mặt trời soi sáng cả hang sâu; ơn trạch thấm nhuần khắp trăm họ. Phụ nữ vui vẻ trong gia đình; trẻ già hát xướng nơi đường sá. Đều tỏ tấm lòng qui hoắc; nguyện xin báo đáp ơn vua. Nên sửa sang công đức hai chùa; để chúc tụng quốc vận dài mãi.
Thế là nhân ở phía Tây nam thành có di tích ngôi chùa cổ, nền cũ mà gạch ngói vẫn còn; nhà cửa thì cỏ gai đã mọc. Đèn hương tuy bỏ; phong cảnh vẫn riêng. Hai cửa khuyết khống chế phía trước; ba dòng sông ôm ấp phía sau. Thanh tĩnh tịch mịch, thực là nơi trụ trì của nhà Phật, nơi gởi gắm tâm tư của bồ tát.
Đương khi dân chúng nghỉ ngơi; cấy cày rảnh việc. Ông bèn sai huyện lệnh Lê Chiếu trông coi việc dựng chùa. Thế là lấp chỗ trũng, san gò cao, chọn ngày đổ nền. Thợ mộc thợ nề gắng sức, như viên tròn lăn trên ván gỗ; trẻ già trai gái giúp duyên, như lớp sóng xô giữa triền sông. Góp lương như kiến; vung rìu như mây. Hạn kỳ không gấp; góp lâu tự thành.
Ngắm xem: rường nhà cong cong như cầu vồng sau mưa quạnh quẽ nhô ra; ngói uyên ương phơi dưới gió như sập sẻ múa lượn. Nóc nhà uốn trĩ bay xòe cánh; đấu chạm trổ như phượng múa lại chầu. Mái cong lấp lánh dưới mặt trời; hiên lượn quanh co trước gió. Tường vách chung quanh, một cõi bụi trần không lẫn; hành lang bao bọc; bốn mùa hiện cửa thanh hư. Bên hữu có vườn thơm, khóm lan mềm mại đẫm móc; phía tả có ao mát, mặt nước hoa sen tốt tươi. Đất giáp ly cung, khác chốn núi rừng u tịch; cửa ngang yếu lộ, là nơi nhân thế hướng về.
Lại sắm đủ chiếu giường đề cho khách trọ nghỉ chân; lại xây đủ bếp núc để cung cấp cho người thiền định. Chùa chiền ngăn nắp; tượng Phật trang nghiêm. Đã chọn đất nặn hình vi diệu; lại nấu vàng đúc tượng đoan nghiêm. Vì muốn để tiếng thơm đến muôn đời; há đâu phải cầu phúc trong một lúc. Thế là suất lĩnh quan lại và hiền tài trong ấp ngoài biên, đem đồng núi Thái-sơn tiến cúng được hơn ba nghìn cân, lại tìm thợ giỏi đúc ba pho tượng Như-lai. Thực là: đem cái không có tướng làm ra sự có tướng, rõ ràng là cái cơ của tuyệt tướng; đem sự bất sinh bất diệt gợi bảo cho chúng sinh, chắc chắn là cái gốc để giáo hòa chúng sinh. Cho nên lửa mạnh tắt mà đầy đủ mười thân; khói biếc tan mà uyển nghiêm trăm phúc. Chính giữa thì đặt tượng hiền kiếp Thích-ca-mâu-ni phật, tượng Ca-diếp đứng một bên, tượng Từ-thị đứng một bên. Chạm bia đá đặt ở đài hoa, cùng phụng sự dưới chân xe pháp. Thứ đến tượng Phật tu hành có nhiều công đức ngồi trên ngọn núi Ma-lị, đời sau gọi là Kiều-trần-đa-la-tạng đặt ở trước cửa Phật gọi là Hộ pháp. Còn thừa hơn một nghìn cân đồng đem đúc một quả chuông lớn. Dựng giá lớn ngoài hiên chùa, treo bằng giây đồng, đánh bằng vồ gỗ. Nghe tiếng chuông thì chúng sinh thoát khỏi cảnh khổ, tỉnh giấc hôn mê. Cho đến tranh vẽ ở tường vôi, mọi duyên nhân quả, muôn nghìn biến hóa, hết đỗi diệu huyền. Nói chung những người tai nghe mắt thấy đều ra sức làm điều thiện, răn bỏ điều ác. Có thể gọi là sánh với Vương-xá thành và An-dưỡng giới vậy.
Đến khi làm lễ khánh thành, tập hợp tứ hoằng thượng sĩ; diễn giảng thất dụ diệu ngôn. Những bậc thánh ở các tầng trời và nhiều vị thần trong khắp bốn cõi đều đến hội họp đông như mây và thừa hưởng phúc lành. Cung cấp cơm chay bằng gạo trữ chín năm; cúng dâng vàng lụa, dốc hết của một đời. Tất cả những người đói khát đều được các thí chủ bố thí.
Than ôi! Phúc quả đã vẹn tròn; lương nhân đã đầy đủ. Vậy nên chăm chỉ đèn hương; sớm chiều chúc tán. Phúc thuần tràn khắp trung nguyên; lộc lớn chan hoà biển cả. Xin chúc thánh vận phồn thịnh, ứng đất trời mà phụ hóa; hoàng đồ dài mãi, hưởng phúc lớn muôn đời. Năm hành thuận tự, bảy chính tề cơ. Đầy kho ứ đụn; biên cảnh yên vui. Thứ đến chúc cho mọi người có duyên cùng Phật pháp, thân sinh năm phúc, sông cạn nào sai; muôn kiếp hai nhân, trâm rơi chẳng mất. Cho tới khắp trong đất nước, cả những bọn xuẩn động, tắm nhân duyên này, chứng vô sinh nhẫn. Vĩ đại thay! Chùa chiền tráng lệ, sông núi mòn mà nền móng càng tăng; bia đá khắc đề, Bột-hải cạn mà tiếng hay còn mãi.
Thần, thường theo phép báu, nhiều lần được mệnh, từ chối không đành, chứ đâu dám khoe khoang rằng đã truy cứu đến cùng cái nguyên do không ai lường được của công quả và hiệu quả; nắm chắc được cái bến bờ ít biết tới của từ nguyên và giáo nguyên. Vậy kính cẩn trình bày lời quê, ghi chép ngày tháng.
Minh rằng:
Cái thuần nhất của tinh và diệu tan đi,
Cho nên cái tính trí và ngu nẩy nở.
Đục trong chia phái,
Phải trái lưu hành.
Xảo trá đua nhau nổi dậy,
Tà địch cạnh tranh.
Núi “tham”, “sân” cao ngất,
Bể “ái”, “dục” tràn đầy.
Sa xuống kiếp luân hồi,
Khôn thoát vòng sinh tử.
Chỉ có chính pháp,
Là độ được mê tình.
Vì vậy đức Phật tổ,
Giáng sinh xuống Già-duy.
Nhân một việc lớn,
Ban bố từ bi khắp mọi nơi
Tuy là sắc tướng,
Nhưng vốn không tịch.
Từng ba phen đàm huyền,
Và bốn cửa du lịch.
Người, trời kính ngưỡng,
Tháp, miếu hiển hách.
Tước, ấp, vương, công,
Đèn hương sớm tối.
Có bậc anh tài,
Giữ chức tư mục.
Làm việc trinh thuần,
Dốc lòng giúp đỡ.
Người xa không ai không mến yêu,
Người gần không ai không cung kính.
Tuyên bố chiếu chỉ,
Vỗ yên dân chúng.
Kho tàng đầy ắp,
Xóm làng hoà mục.
Trị dân nổi tiếng là tuân theo lẽ phải,
Cho nên quyết đoán ngục hình không ai oan uổng.
Tiếng đến tai vua,
Vua lại sai trọng nhậm quận này.
Thống lĩnh thợ thuyền,
Tuân theo chiếu chỉ.
Tường vách sửa lại,
Nhà cửa xây mới.
Đền đài làm xong,
Xe vua tuần hành đến đây.
Ân trạch chứa chan,
Mọi người hớn hở.
Nghĩ đến việc báo đáp ơn vua,
Chỉ có tôn sùng cái nhân kỳ diệu.
Nghe nói phía Nam quận thành,
Có đền chùa cổ.
Gai góc mọc đầy,
Cột gãy tường đổ,
Thế là cụ già trăm tuổi,
Trẻ mới thành niên.
Cùng lòng dốc sức,
Dựng cái đã đổ, hưng cái đã suy.
Thợ thuyền đông đúc như mây,
Búa rìu tới tấp như tuyết bay.
Quy mô rộng lớn,
Chạm trổ dị kì.
Nhân dân giúp đỡ,
Thành quách nổi lên.
Miếu vũ nguy nga,
Tượng Phật lộng lẫy,
Hiên trồng khóm lan,
Ao thả hoa sen.
Sáu trời trống chuông [không ngớt],
Bốn phương [lũ lượt] kéo về xem lễ,
Mở hội khánh thành.
Khai sĩ như mây tụ lại.
Tụng kinh rì rào như nước triều,
Tán dương tôn chỉ sâu xa.
Tiền, lụa, của báu,
Nuôi dưỡng khắp mọi phương.
Phúc trạch bề sâu,
Ngôi thánh dài rộng.
Khoanh tay rủ áo nơi lang miếu chót vót,
Bền vững sánh với trời.
Chúng sinh có tình cảm và ý thức,
Đều tới đường giác ngộ.
Vai cất gánh nặng,
Thoát chỗ u trầm.
Khắc bia chép việc,
Truyền mãi không nát.
Dịch thơ
Tinh diệu tan rã,
Ngu trí nẩy sinh.
Đục trong phân phái,
Thị phi lưu hành.
Xảo trá đua dậy,
Tà tịch phân tranh.
Tham, sân cao ngất,
Ái dục vờn quanh.
Nhập vòng luân giới,
Khôn thoát tử sinh.
Riêng có chính pháp
Độ được mê tình.

Đức Phật tối linh,
Già-duy giáng tích.
Nhân việc lớn lao,
Rộng ban công ích.
“Sắc”, “tướng” dẫu mang,
Vốn từ không tịch.
Ba phen luận đàm,
Bốn cửa du lịch.
Người trời kính trông,
Tháp miếu hiển hách.
Tước ấp vương công,
Đèn hương không tắt.

Coi dân giữ đất,
Có bậc tài danh.
Việc quan trinh thuận,
Dốc hết lòng thành.
Người gần cung kính,
Người xa cảm tình.
Ban bố chiếu chỉ,
Vỗ yên dân lành.
Xóm làng hòa mục,
Kho đụn đầy nhanh.
Ngục hình không lạm,
Trị nước nổi danh.

Tiếng thấu cung đình,
Lại về hạt cũ.
Thống lĩnh thợ thuyền,
Thừa vâng lệnh chúa.
Tường vách sửa sang,
Xây thêm nhà cửa.
Đài tạ làm xong,
Xe vua qua đó.
Ơn trạch chứa chan,
Người người hớn hở.
Mong đáp ơn trên,
Tôn sùng Phật tổ.

Có nền chùa cổ,
Phía Nam quận thành.
Cột xiêu rường đỗ,
Gai góc mọc quanh.
Cụ già đầu bạc,
Lứa tuổi còn xanh.
Cùng nhau góp sức,
Đặt dựng công trình.
Búa rìu tới tấp,
Thuyền thợ đua tranh.
Quy mô bề thế,
Chạm trổ tinh anh.

Bốn mặt xây thành,
Nhân dân giúp đỡ.
Tượng Phật rỡ ràng,
Nguy nga miếu vũ.
Lan tốt trước hiên,
Ao sen khoe nở.
Sau thời trống chiêng,
Bốn phương về dự.
Mở hội khánh thành,
Người như mây tụ.
Ran tiếng tụng kinh,
Xưng điều huyền ảo.

Lụa, tiền, của báu,
Ban phát khắp nơi.
Sâu xa phúc trạch,
Ngôi thánh lâu dài.
Khoanh tay lang miếu,
Bền vững với trời.
Hữu tình hữu thức,
Bến “giác” cùng noi.
U trầm thoát khổ,
Gánh nặng cất vai.
Khắc bia chép việc,
Lưu mãi muôn đời.
Dựng bia ngày 19 tháng 10 năm Mậu Tuất, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín (1118). CHU NGUYÊN HẠO giữ chức Phụng Nghi Lang, thủ thái thường thừa, kiêm quản ngự phủ tài hoa kiêu kỵ úy, tứ phi ngư đại, tá tử, viết chữ trên bia.
Người dịch: ĐỖ VĂN HỶ
(In trong THƠ VĂN LÝ – TRẦN Tập I – 1977)

Quý Phong

Nguyễn Quý Phong – Nguyễn Văn Mậu Mobile: 0981.731.624 & 01.676.090.556 Email: quyphong2007@gmail.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *