QUÊ CHA ĐẤT TỔ – Phần 2

                                                                       QUÊ CHA ĐẤT TỔ
                                                                                      (Phần 2)
                                                                               Hồi ký: LÊ TRẦN CẢNH
Từ tỉnh lỵ Thanh Hóa, ngược phía Bắc theo đường quốc lộ số 1 về làng Duy Tinh – Chợ Phủ khoảng hơn 15 km. Ngày trước về làng Duy Tinh – Chợ Phủ thường qua cầu Sâng, cầu Hàm Rồng, cầu Tào Xuyên rồi rẽ phải vào tỉnh lộ số 5. Đi qua cầu Sài 2km nữa, đến Km số 9 là huyện lỵ Hậu Lộc, cũng là làng Duy Tinh – Chợ Phủ. Tỉnh lộ số 5 này, chạy qua giữa huyện Hậu Lộc đến phà Thắm là huyện Nga Sơn, Điền Hộ rồi qua Phát Diệm thuộc tỉnh Ninh Bình. Ngày nay tỉnh lộ số 5 đã được đổi thành quốc lộ số 10.
Quốc lộ 10 là tuyến đường liên tỉnh, chạy dọc theo vùng duyên hải Bắc Bộ, qua 6 tỉnh và thành phố: Quảng Ninh, Hải phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hóa. Đến Ninh Bình, quốc lộ 10 đổi hướng đông nam qua các huyện Yên Khánh, Kim Sơn (Ninh Bình) rồi theo hướng tây nam qua các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa (Bút Sơn). Điểm cuối của tuyến đường lại gặp quốc lộ 1A tại phường Tào Xuyên (thành phố Thanh Hóa).

Tỉnh lộ số 5 ngày trước, ở đầu ngõ Nạ có cột cây số bằng đá xanh trên khắc: RPNo5 – KM9 (Tỉnh lộ số 5, cây số 9). Bây giờ ở đầu ngõ Thưa có cột số bằng bê tông, trên khắc QL10 – KM284 (Quốc lộ số 10, cây số 284). Thế là bây giờ làng tôi đã có quốc lộ chạy qua rồi!
Qua làng Thái (Yên Thường) là vào địa phận làng tôi. Từ đây, đường làng chạy song song với sông Trà giang, bên kia sông là làng Bản Định thuộc huyện Hoằng Hóa. Đầu làng có một cây đa rất to ở vệ đường. Đi qua chùa Vải (bây giờ là Trạm xá) đến ngõ đầu tiên của làng: Ngõ Thưa, đi tiếp đến ngõ thứ hai là ngõ Hàng. Khu nhà xưa của tôi nằm ngay đầu ngõ Hàng phía bên trái. Tiếp đến ngõ thứ ba là ngõ Vũ, ngõ thứ tư là ngõ Nạ. Đi đến giữa dãy phố huyện gặp ngã tư: rẽ trái ra Cầu Phủ, rẽ phải vào ngõ Chùa, vì ngõ này có ngôi chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh hơn ngàn năm tuổi.
Không biết từ bao giờ làng tôi có câu đồng dao:
“Lắm lúa ngõ Hàng, lắm vàng ngõ Nạ, lắm rạ ngõ Thưa, đi lừa ngõ Vũ, ngủ trưa ngõ Chùa”. Được các cụ giải thích là:
Ngõ Hàng nhiều nhà có ruộng nên lắm lúa, ngày mùa ngõ này người đi gặt gánh lúa về kìn kìn; khi cải cách ruộng đất riêng ngõ Hàng đã có gần chục địa chủ!
Ngõ Nạ phần lớn các nhà đều làm vàng mã, nơi cung cấp vàng mã cho cả vùng của hai huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa. Nên ngõ Nạ lắm vàng là vậy.
Trước mặt Ngõ Thưa là đồng rộng mênh mông, ngày mùa ra đồng ăn trộm rạ, về nhà rất gần, ít bị bắt gặp, nhà nào cũng tranh thủ lấy rạ. Nên ngõ Thưa mới lắm rạ. Ngày trước rạ là vật liệu để đun nấu quanh năm.
Ngõ Vũ là ngõ cụt, cuối ngõ có ngã ba rẽ sang ngõ Hàng và ngõ Nạ. Sáng mai chợ Đình họp ở đầu ngõ Hàng, kẻ cắp hay chạy xuống ngõ này để lẩn trốn, người đuổi theo không biết đâu mà lần.
Còn ngõ Chùa hay ngủ trưa, bởi sáng nào cũng bị thức sớm vì chuông chùa, nhưng rồi lại ngủ nướng nên hay dậy muộn!
Phía Nam ngõ Thưa, qua chùa Vải là khu ruộng đồng màu có tên là Án Sơn. Tên này đã có từ thời Lý, đây là khu ruộng thượng đẳng điền. Đất tốt, một năm hai vụ lúa và màu. Dọc theo ngõ Thưa bên trái là xóm, bên phải có một ao sâu quanh năm đầy nước gọi là ao Phỏ. Ngày nhỏ tôi thường theo mẹ đi tát nước ở ao Phỏ lên ruộng màu của nhà.
Tiếp đến là giếng Quai, đây là giếng đất hình lòng chão, tròn to như một cái ao con. Bờ giếng đắp đất cao không cho nước bẩn chảy xuống giếng được. Lối xuống giếng là một dãy đá lát thoai thoải từ trên xuống, với hai mươi ba bậc bằng đá xanh núi Nhồi. Chiều chiều, người ngõ Hàng và Ngõ Thưa đều ra giếng Quai gánh nước ăn rất đông. Người gánh nước quẩy đôi thùng tôn hoặc đôi nồi đất nung to gấp đôi cái mũ bảo hiểm bây giờ, cũng chẳng hiểu sao lại gọi là nồi giá. Người gánh nước theo bậc đá xuống đến khi lội ngập nửa bắp chân, cúi vục từng thùng một cho đầy nước, rồi quay người lại gánh nước lên. Chỉ sơ ý khi vục nước, nồi vỡ khi đụng vào bậc đá, về nhà thế nào cũng bị phạt. Nhẹ là bị chửi mắng, nặng là bị đánh đòn!
Nếu có nhiều người gánh cùng một lúc, phải chờ người kia gánh lên mới có chỗ xuống được, vì bậc đá chỉ vừa chỗ cho một người đi. Nước giếng rất trong và ngọt dùng làm nước ăn uống của gần nửa làng. Quanh năm nước không bao giờ cạn, dù là đại hạn.
Hàng ngày, cứ khoảng ba giờ chiều thanh niên và lớp choai choai chúng tôi, rủ nhau đi gánh nước rất đông, từng tốp hợp cạ chuyện trò vui vẻ lắm. Tất cả đều chân đất. Một vài đứa trẻ, tám chín tuổi quẩy đôi lu sành, mỗi lu chỉ khoảng năm sáu lít nước, miệng lu mắc một đây thừng tòng teng trên vai, chúng chạy lâng châng như sắp ngã đến nơi.
Những buổi chiều hè người ra tắm đông vui lắm. Người ta cởi quần vắt lên bụi dứa, rồi tồng ngồng lội xuống giếng, xách nước lên bãi rộng dội ào ào vào người. Chuyện trò rôm rả cứ tự nhiên như không, mặc cho mấy cô gái nghiêng mặt, gánh nước chạy vội qua chỗ mọi người đang tắm.
Các cụ truyền lại giếng này có từ cuối thời Trần, đến nay cũng đã trên 600 năm rồi. Cuối thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, khi thực hiện phong trào đào giếng gia đình; làng mới huy động Hội Phụ nữ gánh đất Đồng Cửa lấp giếng gần một tuần mới xong.
Qua giếng Quai khoảng 300 mét là cây đa Chùa Chung. Đây là ngã tư giao nhau giữa hai con đường. Một đường chạy từ Khu Đồn qua bờ Lũy, cây đa con, cây đa Chùa Chung ra Chùa Quyến rồi sang làng Bộ Đầu. Một đường từ ngõ Thưa qua giếng Quai, cây đa Chùa Chung, đến khu Lăng rồi ra Xóm Đền.
Gọi là cây đa Chùa Chung, vì ở đây ngày xưa có ngôi chùa cùng thời với chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh. Chùa chung cho cả hai làng Duy Tinh và Bộ Đầu, nhưng rồi dân làng Bộ Đầu đã đốt chùa với lý do: ngôi chùa ngoảnh mặt hướng Nam nhìn về làng Bộ Đầu, nên con gái làng Bộ Đầu thường chửa hoang!
Từ chùa Chung qua mả Quỳn một đoạn ngắn là khu Lăng. Đây là khu dành cho lăng mộ các nhà quan từ thời nhà Lý, đến thời Lê trung hưng khi bà Hoàng hậu Nguyễn Thị Minh Thụy mất, được chôn ở đây. Lăng là khu đất bằng phẳng, vuông vức rộng bốn mẫu, xung quanh có hàng rào xương rồng. Góc Đông Bắc Lăng là đền Phong Ngãi, thờ bà Hoàng Hậu và các vua nhà Lê. Phía Đông đền ra đến sông là khu đất hoang rậm rạp. Cuối thế kỷ 18 ông Nguyễn Thủ người xóm Hàng Gà – Duy Tinh ra khai phá, rồi nhiều người đến ở, lập nên xóm mới. Xóm ở cạnh đền Phong Ngãi, nên gọi là xóm Đền, bây giờ gọi là làng Mỹ Điện.
Lăng là khu đất công, không ai được phép chôn cất hoặc canh tác ở đó. Sau năm 1945 một số dân xóm Đền ra vỡ Lăng trồng màu. Hiện nay là nghĩa địa của làng Mỹ Điện. Sau cách mạng tháng Tám, đền Phong Ngãi không có người chăm sóc, nên đã bị hủy hoại, chỉ còn gian hậu cung dồn tất cả bài vị vào đó. Năm 1957 tôi về dạy cấp Một xã Văn Lộc, có ra xem đọc các bài vị. Thời hậu Lê có bài vị vua Lê Lợi, thời Lê trung hưng có đủ bài vị từ vua Lê Trang tông (chúa Chổm) đến Lê Chiêu Thống. Sau này gian hậu cung cũng phá nốt, bàn thờ và bài vị đem làm củi nấu lò mía của hợp tác xã! Hiện chỉ còn lại một hòn đá xanh bậc thềm của đền.
Thầy tôi có kể lại rằng: Trước năm 1945 vào ngày giỗ Lê Lợi 22 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại Thái Miếu nhà Lê ở Bố Vệ (Thành phố Thanh Hóa). Chức dịch làng Duy Tinh được dự lễ, sau khi tế lễ ở phần cỗ kiến tại có một mâm cỗ cắm biển đề: Duy Tinh hương, ở khu dành cho họ ngoại các đời vua. Đây là mâm cỗ dành cho chức dịch làng Duy Tinh. Vì Duy Tinh là quê hương của bà Hoàng Hậu Nguyễn Thị Minh Thụy.
Công đức của bà Hoàng Hậu đối với làng Duy Tinh rất lớn. Bia “Trùng tu Phượng Hoàng thị kiều bi” ghi rõ việc bà đã bỏ tiền của và kêu gọi mọi người đóng góp, trong việc làm cầu và dựng chợ. Dân làng vẫn còn lưu truyền câu: “Cầu hư lấy cầu mà sửa, chợ hư lấy chợ mà sửa”, và nói rằng đó là di ngôn của bà Hoàng Hậu với làng Duy Tinh. Ai cũng cho rằng bà Hoàng Hậu giấu vàng ở mỗi công trình để sau này sửa chữa. Thực hư khó xét đoán, khi làm lại cầu sau năm 1975 cũng chẳng thấy vàng đâu!
Khoảng trước năm 1940, có ông Binh người Nam Định mở hiệu thuốc bắc, ở ngôi nhà trước mặt bia chợ bên kia đường, bỗng nhiên giầu có. Đồn rằng: một đêm ông mở cửa ra đường, thấy một đôi vịt quanh quẩn chân bia, ông bắt lấy đôi vịt hóa ra đôi vịt vàng. Tiếng đồn lan truyền, qua một thời gian; rồi một buổi sáng mai, dân làng thấy bia ngã đổ và vỡ một miếng ở đầu. Chắc rằng trong đêm có kẻ đào quanh bia tìm vàng. Cụ hương kiểm Nguyễn Văn Khuê (làng thường gọi ông Kiểm Cẩm) phụ trách trị an của làng, phải chịu trách nhiệm chính về sự vụ này. Cụ đã nhờ ông Nguyễn Văn Tụng đi bộ lên Thanh Hóa mua 4 kg xi măng về gắn lại bia, rồi huy động trai làng dựng bia như cũ.
Nhà tôi ở đầu ngõ Hàng, đi dọc xuống hai bên là nhà ở san sát nhau. Có nhiều ngách rẽ vào hai bên, đều có nhà ở. Đi hết ngõ ra đến đồng, hai bên là khu đồng sâu gọi là ruộng hào. Hào có từ thời nhà Lý, phía ngoài hào là Lũy. Lũy chạy dài suốt từ Đồn ra tận chùa Chung. Hào và Lũy do Lý Thường Kiệt xây dựng hồi ông làm Tổng Trấn Thanh Hoa. Đây là tuyến phòng thủ ngăn quân giặc từ biển vào. Suốt 19 năm làm tổng trấn từ 1082 đến 1101, Lý Thường Kiệt đã xây dựng tuyến phòng thủ liên hoàn vững chắc; đến nay vẫn còn lưu lại tên: Cồn Chiêng, cồn Trống, cồn Vũ…
Ruộng hào quanh năm nước ngập, thường cấy lúa nếp hạt cau, một loại lúa nếp cây cao, thân cứng; bông to hạt mẩy vỏ có xọc đen. Năng xuất không cao, nhưng gạo rất thơm ngon. Một đặc sản bây giờ không còn.
Cánh đồng hào cũng được xếp vào thượng đẳng điền, thầy mẹ tôi có hai sào ruộng hương hỏa ở đây. Ruộng hương hỏa là ruộng có trích lục đóng dấu đỏ: “cấm mua bán và chuyển nhượng”. Ruộng chỉ dùng vào mục đích canh tác thu hoa lợi, để đèn nhang cúng ông bà tổ tiên. Nhưng được cầm cố, bởi thế khi cầm cố ruộng này thường chịu lãi suất cao với giá cắt cổ; vì thế nào người cầm cố cũng phải chuộc lại. Thầy mẹ tôi đã phải cầm cố nhiều lần hai sào ruộng này. Cứ cầm rồi chuộc, chuộc rồi lại cầm; mãi sau năm 1945 mới chuộc về hẳn.
Ngõ Vũ không có đường chạy ra đồng, cuối ngõ có đường rẽ sang ngõ Nạ và ngõ Hàng. Ở đây có cồn Vũ để luyện quân. Truyền rằng ngõ này là dành cho quan võ ở từ thời nhà Lý.
Ở đầu ngõ Vũ, có một cái điếm canh ba gian, xây gạch lợp ngói là trụ sở của tuần đoàn. Điếm ngảnh mặt hướng nam, đầu hồi có ba chữ nho: “Tuần đoàn điếm”. 巡團店Hai bên cửa có đôi câu đối:
Hữu thổ hữu tài tư hữu dụng, 有土有財資有用
Tùy thời tùy thế hựu tùy nhân 隨時隨世又隨人
Thể hiện cách xử lý việc làng vừa công bằng, vừa có tình làng nghĩa xóm! Bên trong điếm dựng một dãy gậy tre đực to bằng cổ tay, dài hai mét, đầu gậy cuộn một khúc dây thừng. Trên tường có treo mấy cái tù và bằng sừng trâu và ốc biển, đó là vũ khí và phương tiện làm việc của tuần đoàn. Chỗ nào xẩy ra sự việc, phạm pháp quả tang, người đi tuần thổi ba hồi chín tiếng tù và; trương tuần và trực tuần đoàn xách gậy, đeo tù và đến giải quyết. Có quyền bắt trói người phạm pháp dẫn về điếm để hương kiểm xét xử. Nhẹ thì trói ngồi một buổi, người nhà đến nộp phạt và nhận lỗi xin về. Nặng thì giải lên huyện, chưa biết nếp tẻ ra sao, ông đội lệ tống ngay vào phòng giam chờ xét xử.
Tuần đoàn có trương tuần và 20 trai đinh, làm nhiệm vụ tuần tra bảo đảm an ninh trật tự của làng, từ nội gia cư đến ngoại đồng điền. Đây là một nhiệm vụ bắt buộc của trai đinh đến tuổi 18. Hàng năm có thay phiên cho đủ số lượng.
Người đi tuần có mang theo một tù và, đi một đoạn lại thổi ba tiếng: tú..um! tú..um! tú… um..um..! từ trong làng ra ngoài đồng, như báo cho mọi người biết có tuần làng đang làm việc.
Sau năm 1945 điếm canh là nơi canh gác của dân quân. Thời kỳ thực hiện phong trào bình dân học vụ, điếm là nơi kiểm tra người mù chữ. Ai chưa thoát nạn mù chữ không được vào chợ.
(Còn nữa)
                                                                                   Lê Trần Cảnh

Quý Phong

Nguyễn Quý Phong – Nguyễn Văn Mậu Mobile: 0981.731.624 & 01.676.090.556 Email: quyphong2007@gmail.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *